Name:
Email:

Tổng số lượt truy cập

C:\Domains\tiepcanthongtin.com\httpdocs\administrator\components\com_vvisit_counter\helpersPlease reinstall [Vinaora Visitors Counter] component53

Những khuyến nghị UPR được Nhà nước Việt Nam chấp nhận liên quan đến quyền tiếp cận thông tin

Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (The Universal Periodic Review - UPR) là một tiến trình trong đó các thành tích nhân quyền của tất cả các thành viên Liên Hợp Quốc sẽ được kiểm điểm định kỳ. UPR là một sáng tạo đáng kể của Hội đồng Nhân quyền trên cơ sở đối xử bình đẳng với tất cả quốc gia. Cơ chế này cũng tạo cơ hội để tất cả các nước tuyên bố họ đã hành động như thế nào để cải thiện tình hình nhân quyền ở nước mình và khắc phục những thách thức đối với việc thụ hưởng quyền con người. UPR cũng bao gồm việc chia sẻ những thực hành tốt về nhân quyền trên toàn cầu. Hiện nay, đây là cơ chế độc nhất mà không có cơ chế nào tương tự.

Việc kiểm điểm được tiến hành thông qua thảo luận tương tác giữa Nhà nước đang được kiểm điểm và các Nhà nước thành viên LHQ khác. Quá trình này diễn ra trong một cuộc họp của Nhóm làm việc UPR. Trong quá trình thảo luận, bất kỳ Nhà nước thành viên LHQ nào cũng có thể đưa ra câu hỏi và/hoặc khuyến nghị cho nước đang được kiểm điểm. Nhóm bộ tam có thể nhóm các vấn đề hoặc câu hỏi cho Nhà nước đang kiểm điểm để giúp cho quá trình đối thoại tương tác diễn ra được thuận lợi và theo thứ tự. Trong chu kỳ kiểm điểm đầu tiên, thời gian dành để kiểm điểm mỗi quốc gia trong Nhóm làm việc là ba giờ. Kể từ chu kỳ thứ hai trở đi, thời lượng này đã được tăng lên là ba giờ rưỡi.

Sau khi Nhóm làm việc kiểm điểm, bộ tam sẽ chuẩn bị một báo cáo với sự tham gia của Nhà nước đang được kiểm điểm và với sự hỗ trợ của OHCHR. Báo cáo này, được gọi là “báo cáo kết quả”, tóm tắt lại những thảo luận đã diễn ra. Vì thế trong báo cáo có các câu hỏi, bình luận và khuyến nghị của các nước với nước đang được kiểm điểm, cũng như phản hồi của nước đang được kiểm điểm (*).

Dưới đây là những khuyến nghị UPR được nhà nước Việt Nam chấp nhận liên quan đến quyền tiếp cận thông tin:

UPR 2009:

-  Đảm bảo đầy đủ quyền tiếp nhận, tìm kiếm và truyền bá thông tin và ý tưởng theo điều 19 ICCPR (Fully guarantee the right to receive, seek and impart information and ideas in compliance with article 19 of ICCPR) - Italy
- Đưa ra và nỗ lực để nhanh chóng thông qua các quy định pháp lý về tiếp cận thông tin (Introduce and seek prompt passage of access-to-information legislation) - Canada
-  Đảm bảo luật xuất bản tuân thủ điều 19 ICCPR (Ensure that press laws are in compliance with article 19 of ICCPR) - Hà Lan


UPR 2014:
- Bảo vệ và đảm bảo việc tôn trọng tự do thông tin và biểu đạt, đặc biệt với nhà báo, blogger và những người bảo vệ nhân quyền, và tiến hành rà soát các quy định pháp luật điều chính báo chí để đảm bảo sự tuân thủ của Việt Nam với các tiêu chuẩn quốc tế (Protect and guarantee respect for freedom of information and expression, particularly for journalists, bloggers and human rights defenders, and undertake a review of legislation governing the press to ensure its compliance with international standards) - Luxembourg;


- Thông qua các luật để tạo thuận lợi cho và điều chỉnh tự do hội họp và biểu tình phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (Enact laws to provide for and regulate freedom of assembly and peaceful demonstration in line with the ICCPR) - Australia


- Cùng với những cam kết trước kia của Việt Nam, tiến hành tất cả biện pháp để đảm bảo tự do biểu đạt, bao gồm trên internet, được đảm bảo đầy đủ trong luật và thực tế bằng cách đưa các quy định pháp lý phù hợp với nghĩa vụ của Việt Nam theo Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (In line with its previous commitments, take all measures to ensure that freedom of expression, including on the internet, is fully guaranteed in law and practice by bringing its legislation in line with Viet Nam’s obligations under the ICCPR) - Hungary


- Cho phép các blogger, nhà báo và những người sử dụng internet và các NGO thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền đặc biệt bằng cách đảm bảo các luật về internet tuân thủ tự do biểu đạt và thông tin (Allow bloggers, journalists, other internet users and NGOs to promote and protect human rights specifically by ensuring that laws concerning the Internet comply with the freedom of expression and information ) - Hà Lan


- Bảo vệ tự do biểu đạt cả trên mạng internet và ngoài mạng bằng cách đưa các quy định pháp luật như Nghị định 2 và 72 tuân thủ luật nhân quyền quốc tế (Protect freedom of expression both offline and online by bringing legislation such as Decrees 2 and 72 into compliance with international human rights law) -  New Zealand;


- Sửa đổi Nghị định 72 và Nghị định 174 về quản lý, cung cấp và sử dụng internet, để đảm bảo sự nhất quán của các văn bản này với các nghĩa vụ nhân quyền quốc tế, cụ thể là với điều 19, 21 và 22 của Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (Revise “Decree 72” and “Decree 174” relating to the management, provision and use of the internet, to ensure their consistency with international human rights obligations, and in particular with Articles 19, 21 and 22 of  the ICCPR ) - Ireland


- Tiến hành các bước để sửa đổi Luật Hình sự để đảm bảo luật này không thể được áp dụng một cách sai trái nhằm ngăn chặn tự do biểu đạt (Take steps to amend its Penal Code to ensure that it cannot be applied in an arbitrary manner to prevent freedom of expression) - Phần Lan;


- Dành không gian cho truyền thông không phải của nhà nước, và làm cho các điều 79, 88 và 258 Luật Hình sự cụ thể hơn và nhất quán với các nghĩa vụ nhân quyền quốc tế về tự do biểu đạt (Give space to non-state media, and that make Criminal Code Articles 79, 88 and 258 more specific and consistent with international human rights obligations on freedom of expression) - Australia;


- Sửa đổi các quy định về các tội danh vi phạm an ninh quốc gia có thể làm hạn chế tự do biểu đạt, bao gồm trên internet, đặc biệt liên quan đến các điều 79, 88 và 258 của Luật Hình sự, để đảm bảo tuân thủ với các nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam, bao gồm nghĩa vụ theo Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (Amend the provisions concerning offences against national security which could restrict freedom of expression, including on the internet, particularly articles 79, 88 and 258 of the Penal Code, to ensure its compliance with Viet Nam’s international obligations, including the ICCPR) - Canada


- Đảm bảo rằng tự do biểu đạt được bảo vệ cả trên mạng và bên ngoài và sửa đổi hoặc xóa bỏ các quy định mơ hồ trong luật hình sự, cũng như với các quy định pháp luật mới để đảm bảo các hạn chế tự do biểu đạt tuân thủ chặt chẽ Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (Ensure that freedom of expression is protected both offline and online and amend or remove vague provisions in the penal code, as well as new legislations  to make sure that limitations of freedom of expression are strictly in line with the ICCPR) - Thụy Điển;


- Dành cho các cá nhân, các nhóm và các bộ phận của xã hội sự chính danh và công nhận để thúc đẩy nhân quyền và biểu đạt quan điểm của họ hoặc sự bất đồng của họ một cách công khai (Give individuals, groups and organs of society the legitimacy and recognition to promote human rights and express their opinions or dissent publicly) - Na Uy;


- Khuyến khích kiện toàn các NGO bằng việc thúc đẩy một khuôn khổ pháp lý, hành chính và tài chính, trong đó các tổ chức NGO có thể được tạo ra và phát triển, và thực hiện hoạt động của họ mà không có bất kỳ cản trở nào, và có tự do biểu đạt (Encourage strengthening of NGOs by promoting a legal, administrative and fiscal framework, in which such institutions can be created and developed, and perform their activities without any obstacles and with freedom of expression) - Tây Ban Nha;


- Tạo điều kiện cho sự phát triển một môi trường an toàn và thuận lợi cho tất cả các tác nhân xã hội dân sự để tự do hiệp hội và biểu đạt quan điểm của họ, bằng các quy định pháp lý trong nước không được sử dụng để bóp nghẹt  những bất đồng hòa bình và chính đáng (Facilitate the development of a safe and enabling environment for all civil society actors to freely associate and express their views by ensuring that national legislative provisions are not invoked to stifle legitimate and peaceful dissent) - Ireland;

(*) Tham khảo: http://thuviennhanquyen.vn/UPR