acheter cialis en ligne

Name:
Email:

Tổng số lượt truy cập

C:\Domains\tiepcanthongtin.com\httpdocs\administrator\components\com_vvisit_counter\helpersPlease reinstall [Vinaora Visitors Counter] component53

Giới hạn ngoại lệ của Quyền Tiếp cận thông tin

Quyền tự do thông tin, tự do biểu đạt không phải là những quyền tuyệt đối, chúng có thể bị giới hạn với điều kiện những giới hạn, hạn chế đó phải được quy định trong pháp luật và chỉ để nhằm các mục đích nhất định mà luật nhân quyền quốc tế cho phép.

Trong khi đó, quyền tự do quan điểm (opinion) là một quyền tuyệt đối (theo khoản 1 Điều 19 ICCPR). Tại đoạn 1 Bình luận chung số 10 (1983), HRC đã phân biệt giữa “quyền giữ quan điểm” với “quyền tự do biểu đạt”. Ủy ban khẳng định quyền được giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp nêu ở khoản 1 Điều 19 là quyền tuyệt đối, không được hạn chế hay tước bỏ trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình huống khẩn cấp của quốc gia. Tuy nhiên, quyền tự do biểu đạt có thể phải chịu những hạn chế nhất định, với điều kiện những hạn chế đó phải được quy định trong pháp luật và chỉ để nhằm các mục đích như nêu ở khoản 3 Điều 19. Việc giữ quan điểm của cá nhân là hành vi thụ động và là một tự do tuyệt đối. Tính chất tuyệt đối của quyền giữ quan điểm sẽ kết thúc khi một người bày tỏ, biểu đạt hay phát ngôn quan điểm của mình. Hành động này đã sang lĩnh vực của “tự do biểu đạt”.

ICCPR không nêu giới hạn chính đáng riêng đối với tiếp cận thông tin, mà chỉ nêu những giới hạn chung đối với tự do biểu đạt (quyền này bao trùm, gồm cả tự do thông tin, tiếp cận thông tin). Khoản 3 Điều 19 ICCPR khẳng định việc thực hiện quyền tự do biểu đạt “đi kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt.” Cụ thể, quyền này phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để:

a) Tôn trọng các quyền hoặc danh dự của người khác;

b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức công chúng.

Về những điều kiện khi áp đặt hạn chế với quyền này, trong Bình luận chung số 34, HRC nhấn mạnh: Tuy nhiên, khi quốc gia thành viên đặt ra những hạn chế với việc thực hành quyền tự do biểu đạt, các biện pháp hạn chế này không được làm ảnh hưởng đến bản chất của quyền...(đoạn 21).

Trong thực tế, nhiều chính quyền thường lạm dụng việc giới hạn các quyền tự do biểu đạt và tự do thông tin. Để hạn chế sự lạm dụng tùy tiện như vậy, Liên Hợp quốc và các tổ chức bảo vệ nhân quyền đã thông qua một số văn kiện để xác định nội hàm của các khái niệm nêu trên (như Các nguyên tắc Siracusa về Giới hạn và đình chỉ các điều khoản trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1984, Các nguyên tắc Johannesburg về An ninh quốc gia, tự do biểu đạt và tiếp cận thông tin năm 1995). Ví dụ, chỉ có thể viện dẫn “an ninh quốc gia“ để giới hạn một số quyền “khi chúng được thực hiện để bảo vệ sự tồn tại của quốc gia hay toàn vẹn lãnh thổ của nó hoặc độc lập chính trị chống lại việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực“ (Đoạn 29, Các nguyên tắc Siracusa). Hay “hạn chế được biện minh với lý do an ninh quốc gia là không chính đáng nếu mục đích thực chất hoặc hiệu quả có thể thấy được là để bảo vệ lợi ích không liên quan đến an ninh quốc gia, bao gồm, ví dụ, để bảo vệ một chính phủ khỏi xấu hổ hay khỏi phô bày những hành động sai lầm” (Nguyên tắc 2, Các nguyên tắc Johannesburg).[1]


[1] Xem thêm: Các nguyên tắc Siracusa về  quy định về giới hạn và đình chỉ trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1984 và Các nguyên tắc Johannesburg về An ninh quốc gia, tự do biểu đạt và tiếp cận thông tin năm 1995.

Các tin đã đăng